Chính Sách Pháp Luật
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
Chính Sách Pháp Luật
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả

5 khoản tiền người lao động có thể nhận khi nghỉ việc năm 2026: Nhiều người không biết dễ bỏ sót quyền lợi

bởi 01 BTV
10 Tháng Chín, 2026
5 khoản tiền người lao động có thể nhận khi nghỉ việc năm 2026: Nhiều người không biết dễ bỏ sót quyền lợi

Khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động có thể được thanh toán nhiều khoản tiền khác nhau tùy thuộc vào nguyên nhân nghỉ việc, thời gian làm việc và quá trình tham gia bảo hiểm. Nắm rõ các quyền lợi này giúp người lao động tránh bỏ sót khoản tiền đáng lẽ được nhận.

Nghỉ việc không đồng nghĩa với việc người lao động chỉ nhận khoản lương của những ngày đã làm. Tùy từng trường hợp, người lao động có thể được thanh toán tiền lương còn thiếu, tiền nghỉ phép năm chưa sử dụng, trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp.

Tuy nhiên, không phải ai nghỉ việc cũng được nhận cả 5 khoản tiền này. Mỗi khoản có điều kiện áp dụng riêng.

  1. Tiền lương và các khoản còn chưa được thanh toán

Khi hợp đồng lao động chấm dứt, người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán các khoản liên quan đến quyền lợi của người lao động.

Theo Điều 48 Bộ luật Lao động 2019, thời hạn thanh toán thông thường là 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng. Trong một số trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.

Khoản tiền người lao động cần kiểm tra có thể bao gồm tiền lương của những ngày đã làm nhưng chưa được thanh toán và các khoản khác theo hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy định hợp pháp của doanh nghiệp.

Người sử dụng lao động cũng có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại các giấy tờ đã giữ của người lao động theo quy định.

  1. Tiền lương của những ngày nghỉ phép năm chưa sử dụng

Một quyền lợi khác mà người lao động dễ bỏ qua là tiền lương của những ngày nghỉ hằng năm chưa nghỉ hết.

Khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 quy định, nếu người lao động thôi việc hoặc mất việc mà chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.

Vì vậy, trước khi hoàn tất thủ tục nghỉ việc, người lao động nên kiểm tra số ngày phép năm còn lại và đối chiếu với bộ phận nhân sự.

Số tiền thực tế được thanh toán phụ thuộc vào số ngày nghỉ chưa sử dụng và tiền lương làm căn cứ theo quy định.

  1. Trợ cấp thôi việc

Không phải trường hợp nghỉ việc nào cũng được nhận trợ cấp thôi việc.

Theo quy định, người lao động đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên và thuộc trường hợp chấm dứt hợp đồng được pháp luật quy định có thể được hưởng khoản trợ cấp này. Mức trợ cấp thông thường là mỗi năm làm việc được tính bằng một nửa tháng tiền lương.

Điểm đáng chú ý là thời gian tính trợ cấp không đơn giản là toàn bộ thời gian làm việc tại doanh nghiệp. Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian từng được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm sẽ được loại trừ theo quy định.

Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 6 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.

  1. Trợ cấp mất việc làm

Trợ cấp mất việc làm được áp dụng trong những trường hợp khác với trợ cấp thôi việc.

Khoản tiền này có thể phát sinh khi người lao động mất việc do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế hoặc trong một số trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp như chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, bán, cho thuê hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.

Người lao động phải đáp ứng điều kiện về thời gian làm việc theo quy định. Mức trợ cấp được tính mỗi năm làm việc bằng một tháng tiền lương, nhưng tối thiểu bằng 2 tháng tiền lương. Thời gian và tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp được xác định theo quy định của Bộ luật Lao động.

Do đó, người lao động không nên nhầm lẫn khoản trợ cấp này với trợ cấp thôi việc, bởi điều kiện phát sinh và cách tính có sự khác nhau.

  1. Trợ cấp thất nghiệp

Đây là khoản tiền được nhiều người lao động quan tâm sau khi nghỉ việc. Từ ngày 1/1/2026, Luật Việc làm 2025 chính thức có hiệu lực và quy định mới về điều kiện, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Theo Luật Việc làm 2025, người lao động có thể được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu chấm dứt hợp đồng đúng quy định, không thuộc trường hợp nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật; đồng thời phải đáp ứng yêu cầu về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp và nộp hồ sơ đúng hạn.

Đối với trường hợp thông thường, người lao động phải đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng. Hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp phải được nộp trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng.

Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng gần nhất, nhưng không vượt quá 5 lần mức lương tối thiểu tháng theo vùng được áp dụng tại tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Thời gian hưởng được tính theo số tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp. Đóng đủ từ 12 đến 36 tháng được hưởng 3 tháng trợ cấp; sau đó, cứ đóng thêm đủ 12 tháng được hưởng thêm 1 tháng, tối đa không quá 12 tháng.

Cần lưu ý gì khi quyết định nghỉ việc?

Trước khi nghỉ việc, người lao động nên kiểm tra kỹ hợp đồng lao động, thời gian tham gia bảo hiểm, số ngày phép còn lại và các khoản lương, thưởng hoặc quyền lợi chưa được thanh toán.

Đặc biệt, cần thực hiện đúng quy định về thời hạn báo trước nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng. Việc nghỉ việc trái pháp luật có thể khiến người lao động không được hưởng trợ cấp thôi việc và phải thực hiện các nghĩa vụ bồi thường theo quy định.

Quan trọng hơn, sau khi nghỉ việc, người lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp cần chú ý thời hạn nộp hồ sơ để không bỏ lỡ quyền lợi.

Như vậy, tùy từng trường hợp, người lao động nghỉ việc trong năm 2026 có thể liên quan đến 5 khoản tiền gồm tiền lương còn chưa thanh toán, tiền phép năm chưa nghỉ, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thất nghiệp. Việc được nhận khoản nào phụ thuộc vào nguyên nhân chấm dứt hợp đồng, thời gian làm việc và quá trình tham gia bảo hiểm của từng người.

 Mai Ngọc (t/h)

https://gocnhinphaply.nguoiduatin.vn/5-khoan-tien-nguoi-lao-dong-co-the-nhan-khi-nghi-viec-nam-2026-nhieu-nguoi-khong-biet-de-bo-sot-quyen-loi-50764.html

Tags: featured

Bài viết liên quan

Hỗ trợ mỗi tháng 2.000.000 đồng cho giám định viên tư pháp và 1.400.000 đồng cho người giúp việc theo Nghị quyết 28, cụ thể ra sao?

Hỗ trợ mỗi tháng 2.000.000 đồng cho giám định viên tư pháp và 1.400.000 đồng cho người giúp việc theo Nghị quyết 28, cụ thể ra sao?

10 Tháng Chín, 2026
Chính thức từ 28/8: Người hoạt động không chuyên trách có thể được hỗ trợ đến 700.000 đồng/tháng theo Nghị quyết 47

Chính thức từ 28/8: Người hoạt động không chuyên trách có thể được hỗ trợ đến 700.000 đồng/tháng theo Nghị quyết 47

10 Tháng Chín, 2026
Hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Kinh doanh bất động sản, Nhà ở sửa đổi… trước ngày 13/9 

Hoàn thiện hồ sơ dự án Luật Kinh doanh bất động sản, Nhà ở sửa đổi… trước ngày 13/9 

10 Tháng Chín, 2026
Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ 12 dự án luật trình Quốc hội 

Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ 12 dự án luật trình Quốc hội 

10 Tháng Chín, 2026

Về chúng tôi:

Chính Sách Pháp Luật

Ban cố vấn:


Tiến sĩ Bùi Đặng Dũng – nguyên Phó Chủ nhiệm UBTCNS Quốc hội
Tiến sĩ Trần Anh Tuấn – Phó trưởng ban Ban phong trào cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam khoá VIII
Đại tá Trần Sự - nguyên Cục PTTH Công an nhân dân
ThS. Lê Xuân Thăng – nguyên PCT Hiệp hội Vapa
Luật sư Nguyễn Thành Hưng - Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai
Luật sư Phạm Lan Thảo - Đoàn luật sư BR-VT
Luật sư Nguyễn Xuân Hoàng - Đoàn luật sư TP.HCM

Hội đồng biên tập:


Ts. Hồ Minh Sơn – Chủ tịch HĐQL Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE)
ThS Hồ Thị Thanh Tuyền – Viện trưởng Viện IRLIE
Luật gia Phạm Trắc Long – Phó viện trưởng viện IRLIE
Ông Lê Thành Ánh - Phó viện trưởng
Ông Hồ Vĩnh Chung – Phó Chánh Văn phòng Viện IRLIE
Phạm Vũ Thiên Thi - Trưởng VPGD


Địa chỉ: Số 1 Đoàn Thị Điểm, Phường Dương Đông TP Phú Quốc, tinh An Giang

Chịu trách nhiệm nội dung: Luật gia Trần Thị Liên – Phó Chánh Văn phòng Viện IRLIE, Chủ tịch CLB DN IMRIC – IRLIE


Đặc san khoa học Chính sách pháp luật và Kinh tế hội nhập số 82/GP-XBĐS do Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) cấp ngày 16/08/2024

Bài viết mới

  • 5 khoản tiền người lao động có thể nhận khi nghỉ việc năm 2026: Nhiều người không biết dễ bỏ sót quyền lợi
  • Hỗ trợ mỗi tháng 2.000.000 đồng cho giám định viên tư pháp và 1.400.000 đồng cho người giúp việc theo Nghị quyết 28, cụ thể ra sao?

Chuyên mục

  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Uncategorized
  • Xã hội

Thông tin giấy phép trang:

Viện Nghiên cứu chính sách pháp luật & Kinh tế hội nhập (viết tắt: IRLIE) | số giấy phép A2557

Bộ Khoa học và Công nghệ

Trụ sở phía Bắc: Nhà C1, Tập thể Uỷ ban kế hoạch nhà nước, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội
Phía Nam: 414, đường Huỳnh Tấn Phát, phường Bình Thuận, quận 7, TP.HCM

Cục phát thanh truyền hình cấp phép số: 140/GP-TTĐT ngày 29/08/2023

Liên hệ: 0582703333

  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội

© 2022

Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội