Chính Sách Pháp Luật
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
Chính Sách Pháp Luật
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả

Tranh chấp về đặt cọc: TAND Tối cao lấy ý kiến việc xác định thời hiệu khởi kiện

bởi 01 BTV
19 Tháng Tư, 2026
Tranh chấp về đặt cọc: TAND Tối cao lấy ý kiến việc xác định thời hiệu khởi kiện

(CSPLO) – Liên quan đến việc xác định thời hiệu khởi kiện khi có tranh chấp về đặt cọc hiện vẫn có hai luồng quan điểm.

TAND Tối cao đang dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đặt cọc, trong đó có việc xác định thời hiệu khởi kiện.

Theo đó, dự thảo Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về thời hiệu khởi kiện trong 3 trường hợp.

Thời hiệu khởi kiện tranh chấp về hợp đồng đặt cọc được thực hiện theo Điều 429 của Bộ luật Dân sự và quy định khác có liên quan (03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm).

Thời hiệu khởi kiện tranh chấp về tuyên bố giao dịch đặt cọc vô hiệu được thực hiện theo Điều 132 của Bộ luật Dân sự (2 năm).

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thỏa thuận đặt cọc được thực hiện theo Điều 588 của Bộ luật Dân sự (03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm).

Đáng chú ý, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu trả lại tài sản đặt cọc theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự.

Ảnh minh họa. AI

Theo cơ quan soạn thảo, hiện nay đang có hai quan điểm khác nhau về thời hiệu khởi kiện để bên đặt cọc yêu cầu bên nhận đặt cọc trả lại tài sản đặt cọc cho mình căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Dân sự khi hợp đồng được bảo đảm không được giao kết, thực hiện.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc của bên đặt cọc là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tài sản đặt cọc khi được giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ thì quyền sở hữu vẫn thuộc về bên đặt cọc và phải có những điều kiện cụ thể theo Luật định (bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng hoặc vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng đặt cọc; hợp đồng được giao kết, thực hiện và tài sản đặt cọc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền) hoặc theo thỏa thuận thì quyền sở hữu tài sản đặt cọc mới được chuyển giao cho bên nhận đặt cọc.

Có thể hiểu một cách đơn giản rằng người đặt cọc chỉ “gửi tạm” tài sản của mình cho bên nhận đặt cọc nắm giữ để đảm bảo cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng và khi hợp đồng không được ký kết, thực hiện mà không phải do lỗi của bên đặt cọc thì họ hoàn toàn có quyền yêu cầu đòi lại tài sản thuộc quyền sở hữu chính đáng và thuộc trường hợp bảo vệ quyền sở hữu theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự.

Quan điểm thứ hai cho rằng, yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc của bên đặt cọc là yêu cầu chỉ được chấp nhận dựa trên việc xem xét, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nên cần áp dụng quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự, cụ thể thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là 03 năm kể từ ngày bên đặt cọc biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Cần phải lưu ý rằng, không phải lúc nào khi hợp đồng được bảo đảm bởi đặt cọc không được giao kết, thực hiện là nghiễm nhiên bên đặt cọc có quyền yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc mà Tòa án cần xem xét, đánh giá một cách toàn diện hợp đồng, các tài liệu, chứng cứ có liên quan để đưa ra quyết định bên nhận đặt cọc có phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc hay không, quyền sở hữu tài sản đặt cọc của bên đặt cọc không phải là quyền sở hữu “tuyệt đối” nên không áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự về không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp bảo vệ quyền sở hữu.

Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học đang dự thảo theo quan điểm thứ nhất như đã nêu trên.

NGUYỄN NGỌC

https://plo.vn/tranh-chap-ve-dat-coc-tand-toi-cao-lay-y-kien-viec-xac-dinh-thoi-hieu-khoi-kien-post904875.html

Tags: featured

Bài viết liên quan

Năm 2026, người lao động sẽ bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong trường hợp nào?

Năm 2026, người lao động sẽ bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong trường hợp nào?

17 Tháng Chín, 2026
Bộ Nội vụ thông tin mới về đề xuất tăng lương tối thiểu vùng từ 1/1/2027 

Bộ Nội vụ thông tin mới về đề xuất tăng lương tối thiểu vùng từ 1/1/2027 

17 Tháng Chín, 2026
Điều kiện của bất động sản có sẵn đưa vào kinh doanh theo Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản 2026 ra sao?

Điều kiện của bất động sản có sẵn đưa vào kinh doanh theo Dự thảo Luật Kinh doanh bất động sản 2026 ra sao?

15 Tháng Chín, 2026
Đề xuất bổ sung đối tượng được chi thu nhập tăng thêm 3.000.000 đồng/tháng từ 01/10/2026, cụ thể gồm những ai?

Đề xuất bổ sung đối tượng được chi thu nhập tăng thêm 3.000.000 đồng/tháng từ 01/10/2026, cụ thể gồm những ai?

15 Tháng Chín, 2026
Bài tiếp theo
HTX SX và DVNN Hợp Tiến Phát tổ chức Đại hội thành viên nhiệm kỳ 2024 – 2027 và Ký kết cung cấp thức ăn chăn nuôi với Cty TNHH Woosung Việt Nam

HTX SX và DVNN Hợp Tiến Phát tổ chức Đại hội thành viên nhiệm kỳ 2024 – 2027 và Ký kết cung cấp thức ăn chăn nuôi với Cty TNHH Woosung Việt Nam

Về chúng tôi:

Chính Sách Pháp Luật

Ban cố vấn:


Tiến sĩ Bùi Đặng Dũng – nguyên Phó Chủ nhiệm UBTCNS Quốc hội
Tiến sĩ Trần Anh Tuấn – Phó trưởng ban Ban phong trào cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam khoá VIII
Đại tá Trần Sự - nguyên Cục PTTH Công an nhân dân
ThS. Lê Xuân Thăng – nguyên PCT Hiệp hội Vapa
Luật sư Nguyễn Thành Hưng - Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai
Luật sư Phạm Lan Thảo - Đoàn luật sư BR-VT
Luật sư Nguyễn Xuân Hoàng - Đoàn luật sư TP.HCM

Hội đồng biên tập:


Ts. Hồ Minh Sơn – Chủ tịch HĐQL Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE)
ThS Hồ Thị Thanh Tuyền – Viện trưởng Viện IRLIE
Luật gia Phạm Trắc Long – Phó viện trưởng viện IRLIE
Ông Lê Thành Ánh - Phó viện trưởng
Ông Hồ Vĩnh Chung – Phó Chánh Văn phòng Viện IRLIE
Phạm Vũ Thiên Thi - Trưởng VPGD


Địa chỉ: Số 1 Đoàn Thị Điểm, Phường Dương Đông TP Phú Quốc, tinh An Giang

Chịu trách nhiệm nội dung: Luật gia Trần Thị Liên – Phó Chánh Văn phòng Viện IRLIE, Chủ tịch CLB DN IMRIC – IRLIE


Đặc san khoa học Chính sách pháp luật và Kinh tế hội nhập số 82/GP-XBĐS do Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) cấp ngày 16/08/2024

Bài viết mới

  • Từ 20/9/2026, mỗi hộ gia đình được tặng quà đến 1.000.000 đồng nhân dịp Tết Nguyên đán theo Nghị định 307, cụ thể ra sao?
  • Luật gia Hồ Minh Sơn: Ranh giới pháp lý liên quan không cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn và kinh doanh hàng giả ảnh hưởng cộng đồng

Chuyên mục

  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Uncategorized
  • Xã hội

Thông tin giấy phép trang:

Viện Nghiên cứu chính sách pháp luật & Kinh tế hội nhập (viết tắt: IRLIE) | số giấy phép A2557

Bộ Khoa học và Công nghệ

Trụ sở phía Bắc: Nhà C1, Tập thể Uỷ ban kế hoạch nhà nước, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội
Phía Nam: 414, đường Huỳnh Tấn Phát, phường Bình Thuận, quận 7, TP.HCM

Cục phát thanh truyền hình cấp phép số: 140/GP-TTĐT ngày 29/08/2023

Liên hệ: 0582703333

  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội

© 2022

Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội