Chính Sách Pháp Luật
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
Chính Sách Pháp Luật
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả

Làm thế nào để Luật Di sản văn hóa giữ được “tính thiêng”?

bởi 01 BTV
30 Tháng Tư, 2026
Làm thế nào để Luật Di sản văn hóa giữ được “tính thiêng”?

TS PHAN THANH HẢI

Trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa, việc sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa lần này không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật lập pháp, mà còn là một bước điều chỉnh quan trọng về tư duy quản lý: Từ bảo tồn đơn thuần sang quản trị di sản trong bối cảnh phát triển.

Những góp ý từ thực tiễn địa phương, đặc biệt từ các đô thị di sản như Huế, cho thấy rõ một yêu cầu cấp thiết: Luật phải vừa bảo vệ được giá trị cốt lõi của di sản, vừa có khả năng vận hành hiệu quả trong đời sống xã hội đương đại.

Xây dựng trong khu vực bảo vệ di tích là nội dung nhạy cảm

Nhìn tổng thể, dự thảo Luật đã có nhiều điểm tiến bộ, nhất là trong việc tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục, phân cấp thẩm quyền và tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Tuy nhiên, qua rà soát từ thực tiễn quản lý, có thể nhận thấy một số nhóm vấn đề cốt lõi cần tiếp tục hoàn thiện, nếu không sẽ trở thành “điểm nghẽn pháp lý” trong quá trình triển khai.

Di tích quốc gia làng cổ Đường Lâm (Hà Nội). Ảnh: Tín Nga

Trước hết, vấn đề quản lý xây dựng trong khu vực bảo vệ di tích tiếp tục là một trong những nội dung nhạy cảm nhất. Dự thảo Luật đã có xu hướng mở hơn khi cho phép sửa chữa, cải tạo, thậm chí xây dựng mới nhà ở riêng lẻ trong khu vực bảo vệ. Đây là cách tiếp cận cần thiết trong bối cảnh nhiều di sản của Việt Nam không phải là “di tích tĩnh”, mà là các không gian di sản sống, nơi người dân vẫn đang sinh sống, sản xuất và thích ứng với đời sống hiện đại.

Tuy nhiên, nếu quy định này không được thiết kế với các điều kiện đủ chặt chẽ, nguy cơ bị lạm dụng là rất lớn.

Thực tế cho thấy, không thể áp dụng một quy định chung cho tất cả các loại hình di tích. Di tích khảo cổ, di tích kiến trúc đơn thể, phố cổ, làng cổ hay các khu dân cư xen cài trong vùng bảo vệ đều có đặc điểm rất khác nhau. Do đó, thay vì “mở cửa” theo cách phổ quát, luật cần thiết kế theo hướng phân loại, đi kèm với các “hàng rào kỹ thuật” cụ thể về chiều cao, mật độ xây dựng, vật liệu, hình thức kiến trúc và đặc biệt là các quy chế quản lý cảnh quan.

Đây chính là ranh giới mong manh giữa bảo tồn và phát triển, bởi nếu thiếu công cụ kiểm soát, di sản rất dễ bị “bào mòn” từng bước.

Có thể thấy, những vấn đề đặt ra trong quá trình góp ý không phải là những chi tiết rời rạc, mà đều xoay quanh một trục chính: Làm thế nào để Luật Di sản văn hóa vừa giữ được “tính thiêng” của bảo tồn, vừa có “tính sống” trong phát triển. Một đạo luật quá chặt chẽ nhưng không vận hành được sẽ làm chậm tiến trình bảo tồn; ngược lại, một đạo luật quá mở mà thiếu kiểm soát sẽ khiến di sản bị tổn hại.

Một vấn đề khác mang tính kỹ thuật nhưng có tác động rất lớn đến thực tiễn là quy định về “xác nhận tình trạng xuống cấp” của di tích. Trên thực tế, việc đánh giá mức độ xuống cấp không thể tách rời khỏi quá trình lập dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế – kỹ thuật. Nếu tiếp tục duy trì một thủ tục xác nhận độc lập, luật sẽ vô hình trung tạo thêm một tầng nấc hành chính, kéo dài thời gian xử lý, trong khi yếu tố thời gian lại đặc biệt quan trọng đối với các di tích đang xuống cấp.

Do đó, việc lồng ghép nội dung này vào các bước thẩm định dự án là một hướng đi hợp lý, vừa bảo đảm kiểm soát chuyên môn, vừa phù hợp với tinh thần cải cách thủ tục hành chính.

Không thể chỉ dừng lại ở vai trò “bảo vệ”

Ở một góc độ rộng hơn, sự chồng chéo giữa Luật Di sản văn hóa và pháp luật về xây dựng cũng cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc. Công trình bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích có tính chất rất đặc thù, không thể đánh đồng với các công trình xây dựng thông thường.

Nếu cơ chế thẩm định bị “hòa tan” vào hệ thống chung của ngành xây dựng mà không giữ được vai trò chủ đạo của cơ quan chuyên môn về văn hóa, nguy cơ sai lệch về kỹ thuật bảo tồn là hoàn toàn có thể xảy ra. Do đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là sửa một vài điều khoản, mà là thiết kế lại một cách tiếp cận thống nhất, trong đó bảo đảm rõ ràng tính chất chuyên ngành của hoạt động tu bổ di tích.

Đáng chú ý, vấn đề “quy hoạch khảo cổ” cũng đang đặt ra những câu hỏi lớn về tính khả thi. Dù đã được quy định từ nhiều năm trước, nhưng trên thực tế, rất ít địa phương có thể triển khai đầy đủ loại hình quy hoạch này do hạn chế về dữ liệu, nhân lực và nguồn lực tài chính. Trong bối cảnh Luật Quy hoạch đã thiết lập một hệ thống quy hoạch tích hợp, việc duy trì một loại quy hoạch chuyên ngành khó thực hiện như quy hoạch khảo cổ dễ dẫn đến tình trạng “quy định treo”.

Vì vậy, việc chuyển sang mô hình linh hoạt hơn, như kế hoạch khai quật khảo cổ trung hạn, kết hợp với bản đồ cảnh báo và cơ sở dữ liệu khảo cổ, có thể là một hướng tiếp cận thực tế và hiệu quả hơn.

Một điểm sáng trong dự thảo lần này là chủ trương cho phép thành lập Quỹ bảo tồn di sản văn hóa ở địa phương. Đây là một giải pháp có ý nghĩa rất lớn đối với các địa phương có mật độ di sản cao, nhưng nguồn lực ngân sách còn hạn chế. Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự đi vào cuộc sống, cần có quy định rõ ràng về cách thức trích lập, sử dụng, giám sát và mối quan hệ với ngân sách nhà nước, tránh phát sinh vướng mắc trong quá trình triển khai.

Có thể thấy, những vấn đề đặt ra trong quá trình góp ý không phải là những chi tiết rời rạc, mà đều xoay quanh một trục chính: Làm thế nào để Luật Di sản văn hóa vừa giữ được “tính thiêng” của bảo tồn, vừa có “tính sống” trong phát triển. Một đạo luật quá chặt chẽ nhưng không vận hành được sẽ làm chậm tiến trình bảo tồn; ngược lại, một đạo luật quá mở mà thiếu kiểm soát sẽ khiến di sản bị tổn hại.

Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với yêu cầu cao hơn về phát triển bền vững và khai thác giá trị văn hóa như một nguồn lực nội sinh, Luật Di sản văn hóa không thể chỉ dừng lại ở vai trò “bảo vệ”. Luật cần trở thành một công cụ quản trị hiện đại, có khả năng điều tiết mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, giữa Nhà nước, cộng đồng, thị trường, giữa giá trị quá khứ và nhu cầu hiện tại.

Những góp ý từ thực tiễn địa phương, nếu được tiếp thu một cách đầy đủ và thể chế hóa một cách khoa học, sẽ góp phần làm cho Luật Di sản văn hóa sửa đổi lần này không chỉ đúng về nguyên tắc, mà còn “chạy được” trong đời sống. Và đó mới chính là thước đo quan trọng nhất của một đạo luật về di sản trong thời đại hôm nay.

https://baovanhoa.vn/van-hoa/lam-the-nao-de-luat-di-san-van-hoa-giu-duoc-tinh-thieng-223893.html

Tags: featured

Bài viết liên quan

Tách bạch hàng giả và hàng kém chất lượng trong xử lý hình sự

Tách bạch hàng giả và hàng kém chất lượng trong xử lý hình sự

29 Tháng Tư, 2026
Hoàn thiện khung pháp lý cho năng lượng mới

Hoàn thiện khung pháp lý cho năng lượng mới

29 Tháng Tư, 2026
Loạt chính sách kinh tế nổi bật có hiệu lực từ tháng 5/2026

Loạt chính sách kinh tế nổi bật có hiệu lực từ tháng 5/2026

28 Tháng Tư, 2026
Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Nền tảng phát triển kinh tế tuần hoàn

Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Nền tảng phát triển kinh tế tuần hoàn

28 Tháng Tư, 2026

Về chúng tôi:

Chính Sách Pháp Luật

Ban cố vấn:


Tiến sĩ Bùi Đặng Dũng – nguyên Phó Chủ nhiệm UBTCNS Quốc hội
Tiến sĩ Trần Anh Tuấn – Phó trưởng ban Ban phong trào cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam khoá VIII
Đại tá Trần Sự - nguyên Cục PTTH Công an nhân dân
ThS. Lê Xuân Thăng – nguyên PCT Hiệp hội Vapa
ThS. NB Phạm Đức Trọng
Luật sư Nguyễn Thúy Quỳnh - Đoàn luật sư Hải Phòng
Luật sư Nguyễn Thành Hưng - Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai
Luật sư Phạm Lan Thảo - Đoàn luật sư BR-VT
Luật sư Nguyễn Xuân Hoàng - Đoàn luật sư TP.HCM

Hội đồng biên tập:


Ts. Hồ Minh Sơn – Chủ tịch HĐQL Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE)
ThS Hồ Thị Thanh Tuyền – Viện trưởng Viện IRLIE
ThS. Luật sư Đặng Thanh Sâm - Phó viện trưởng
Luật gia Phạm Trắc Long – Phó viện trưởng viện IRLIE
Ông Lê Thành Ánh - Phó viện trưởng
Ông Hồ Vĩnh Chung – Phó Chánh Văn phòng Viện IRLIE
Phạm Vũ Thiên Thi - Trưởng VPGD


Địa chỉ: Số 1 Đoàn Thị Điểm, Phường Dương Đông TP Phú Quốc, tinh An Giang

Chịu trách nhiệm nội dung: Luật gia Trần Thị Liên – Phó Chánh Văn phòng Viện IRLIE, Chủ tịch CLB DN IMRIC – IRLIE


Đặc san khoa học Chính sách pháp luật và Kinh tế hội nhập số 82/GP-XBĐS do Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) cấp ngày 16/08/2024

Bài viết mới

  • Làm thế nào để Luật Di sản văn hóa giữ được “tính thiêng”?
  • Tách bạch hàng giả và hàng kém chất lượng trong xử lý hình sự

Chuyên mục

  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Uncategorized
  • Xã hội

Thông tin giấy phép trang:

Viện Nghiên cứu chính sách pháp luật & Kinh tế hội nhập (viết tắt: IRLIE) | số giấy phép A2557

Bộ Khoa học và Công nghệ

Trụ sở phía Bắc: Nhà C1, Tập thể Uỷ ban kế hoạch nhà nước, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội
Phía Nam: 414, đường Huỳnh Tấn Phát, phường Bình Thuận, quận 7, TP.HCM

Cục phát thanh truyền hình cấp phép số: 140/GP-TTĐT ngày 29/08/2023

Liên hệ: 0582703333

  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội

© 2022

Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội