Chính Sách Pháp Luật
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội
Chính Sách Pháp Luật
Không có kết quả
Xem tất cả kết quả

Người lao động nghỉ việc 14 ngày trở lên: Kế toán, nhân sự, NLĐ cần biết

bởi 01 BTV
12 Tháng Mười, 2023
Người lao động nghỉ việc 14 ngày trở lên: Kế toán, nhân sự, NLĐ cần biết

(CSPLO) – Trường hợp người lao động (NLĐ) nghỉ việc 14 ngày làm việc trở lên không hưởng lương trong tháng thì có phải đóng BHXH, BHYT, BHTN, có phải báo giảm lao động không? – Độc giả Thúy Anh

Một số điều cần biết khi NLĐ nghỉ việc 14 ngày trở lên. (Nguồn internet)

NLĐ nghỉ việc 14 ngày trở lên có phải đóng BHXH, BHYT, BHTN?

Căn cứ quy định tại Khoản 4, 5 và 6 Điều 42 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017, trường hợp NLĐ nghỉ việc 14 ngày trở lên thì:

– Trường hợp 1: NLĐ nghỉ việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng và vẫn hưởng lương do người sử dụng lao động chi trả thì NLĐ và người sử dụng lao động phải đóng BHXH, BHYT theo quy định.

– Trường hợp 2: NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì NLĐ và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH, BHYT; nhưng NLĐ sẽ vẫn được hưởng quyền lợi BHYT.

– Trường hợp 3: NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì NLĐ và người sử dụng lao động:

+ Không phải đóng BHXH; nhưng thời gian này vẫn được tính là thời gian tham gia BHXH để tính hưởng BHXH đối với NLĐ.

+ Không phải đóng BHYT, mà cơ quan BHXH sẽ đóng BHYT cho NLĐ.

– Trường hợp 4: NLĐ nghỉ việc và không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì NLĐ và người sử dụng lao động không phải đóng BHXH; thời gian này không được tính để hưởng BHXH đối với NLĐ.

NLĐ nghỉ việc 14 ngày trở lên có phải báo giảm lao động không?

Căn cứ quy định tại Khoản 4, 5 và 6 Điều 42 Quyết định 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 thì:

– Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng BHXH.

– Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về BHXH thì không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN nhưng vẫn được hưởng quyền lợi BHYT.

– Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì đơn vị và người lao động không phải đóng BHXH, BHTN, BHTNLĐ, BNN, thời gian này được tính là thời gian đóng BHXH, không được tính là thời gian đóng BHTN và được cơ quan BHXH đóng BHYT cho người lao động.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Quyết định 896/QĐ-BHXH năm 2021 thì doanh nghiệp thực hiện báo tăng, báo giảm, điều chỉnh đóng BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN trong các trường hợp sau:

– Tăng mới lao động;

– Báo giảm lao động đối với các trường hợp người lao động chuyển đi; nghỉ việc, chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc;

– Báo giảm do nghỉ hưởng chế độ BHXH (hưu trí, bảo lưu, ốm đau, thai sản);

– Báo giảm do nghỉ không lương, tạm hoãn hợp đồng lao động, ngừng việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng;

– Điều chỉnh đóng BHXH (người lao động thay đổi tiền lương đóng BHXH).

Như vậy:Trường hợp người lao động không làm việc, không hưởng lương hoặc nghỉ việc hưởng chếđộ ốm đau, thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì doanh nghiệp thực hiện báo giảm lao động để không thực hiện đóng BHXH tháng đó. 

Trường hợp người lao động không làm việc, không hưởng lương hoặc nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau, thai sản dưới 14 ngày làm việc trong tháng thì doanh nghiệp không cần thực hiện báo giảm lao động và vẫn tham gia đóng BHXH theo quy định.

Trả lương cho NLĐ nghỉ việc 14 ngày trở lên phải tuân thủ nguyên tắc gì?

Căn cứ quy định tại Điều 94 Bộ luật Lao động 2019 thì người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sửdụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp.

Người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

https://baoquocte.vn/nguoi-lao-dong-nghi-viec-14-ngay-tro-len-ke-toan-nhan-su-nld-can-biet-245737.html

Bài viết liên quan

Nghị quyết 66-NQ/TW: Cuộc cách mạng tư duy về pháp luật

Nghị quyết 66-NQ/TW: Cuộc cách mạng tư duy về pháp luật

6 Tháng Một, 2026
13 luật mới được công bố: Tác động trực tiếp đến sinh kế và đời sống gia đình

13 luật mới được công bố: Tác động trực tiếp đến sinh kế và đời sống gia đình

6 Tháng Một, 2026
Áp dụng giám sát điện tử với người nghiện ma túy từ 1-7-2026

Áp dụng giám sát điện tử với người nghiện ma túy từ 1-7-2026

5 Tháng Một, 2026
Luật An ninh mạng: Nền tảng pháp lý bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian số

Luật An ninh mạng: Nền tảng pháp lý bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian số

17 Tháng Mười Hai, 2025
Bài tiếp theo
Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo: Ngày càng nâng cao hiệu quả, thu hút nhiều nguồn lực

Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo: Ngày càng nâng cao hiệu quả, thu hút nhiều nguồn lực

Về chúng tôi:

Chính Sách Pháp Luật

Ban cố vấn:


Tiến sĩ Bùi Đặng Dũng – nguyên Phó Chủ nhiệm UBTCNS Quốc hội
Tiến sĩ Trần Anh Tuấn – Phó trưởng ban Ban phong trào cơ quan UBTW MTTQ Việt Nam khoá VIII
Đại tá Trần Sự - nguyên Cục PTTH Công an nhân dân
ThS. Lê Xuân Thăng – nguyên PCT Hiệp hội Vapa
ThS. NB Phạm Đức Trọng
Luật sư Nguyễn Thúy Quỳnh - Đoàn luật sư Hải Phòng
Luật sư Nguyễn Thành Hưng - Đoàn luật sư tỉnh Đồng Nai
Luật sư Phạm Lan Thảo - Đoàn luật sư BR-VT
Luật sư Nguyễn Xuân Hoàng - Đoàn luật sư TP.HCM

Hội đồng biên tập:


Ts. Hồ Minh Sơn – Chủ tịch HĐQL Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật&Kinh tế hội nhập (IRLIE)
ThS Hồ Thị Thanh Tuyền – Viện trưởng Viện IRLIE
ThS. Luật sư Đặng Thanh Sâm - Phó viện trưởng
Luật gia Phạm Trắc Long – Phó viện trưởng viện IRLIE
Ông Lê Thành Ánh - Phó viện trưởng
Ông Hồ Vĩnh Chung – Phó Chánh Văn phòng Viện IRLIE
Phạm Vũ Thiên Thi - Trưởng VPGD


Địa chỉ: Số 1 Đoàn Thị Điểm, Phường Dương Đông TP Phú Quốc, tinh An Giang

Chịu trách nhiệm nội dung: Luật gia Trần Thị Liên – Phó Chánh Văn phòng Viện IRLIE, Chủ tịch CLB DN IMRIC – IRLIE


Đặc san khoa học Chính sách pháp luật và Kinh tế hội nhập số 82/GP-XBĐS do Cục Báo chí (Bộ Thông tin và Truyền thông) cấp ngày 16/08/2024

Bài viết mới

  • Đầu tư, chuyển nhượng bất động sản, thế trận đảo chiều – Bất động sản ‘chất’ hơn dù ‘Cửa’ vay tín dụng “Hẹp”
  • Tình huống pháp lý liên quan chủ nuôi và nhóm chuyên đào trộm heo bệnh đã tiêu hủy về bánnhư thế nào?

Chuyên mục

  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Uncategorized
  • Xã hội

Thông tin giấy phép trang:

Viện Nghiên cứu chính sách pháp luật & Kinh tế hội nhập (viết tắt: IRLIE) | số giấy phép A2557

Bộ Khoa học và Công nghệ

Trụ sở phía Bắc: Nhà C1, Tập thể Uỷ ban kế hoạch nhà nước, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Hà Nội
Phía Nam: 414, đường Huỳnh Tấn Phát, phường Bình Thuận, quận 7, TP.HCM

Cục phát thanh truyền hình cấp phép số: 140/GP-TTĐT ngày 29/08/2023

Liên hệ: 0582703333

  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội

© 2022

Không có kết quả
Xem tất cả kết quả
  • An ninh – Trật tự
  • Giáo dục
  • Kinh tế
  • Kinh tế hội nhập
  • Luật sư
  • Nghiên cứu – Trao đổi
  • Pháp luật
  • Quốc tế
  • Xã hội